5 chỉ số đo mức độ rủi ro của Quỹ tương hỗ - Intelligent Investor

5 chỉ số đo mức độ rủi ro của Quỹ tương hỗ

23/07/2017 13:06

Khi phân tích cổ phiếu, trái phiếu và các danh mục đầu tư quỹ tương hỗ, có năm chỉ số chính dùng để đo rủi ro đầu tư.

 

Những phép đo thống kê này dự đoán dựa trên lịch sử của rủi ro/biến động đầu tư và là các thành tố chính của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory). Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại là một phương pháp tiêu chuẩn về tài chính và học thuật được sử dụng để đánh giá lợi suất của cổ phiếu, công cụ thu nhập cố định và các khoản đầu tư quỹ tương hỗ thông qua việc so sánh chúng với các chuẩn đối chiếu (Benchmark) của thị trường.

 

(*) Benchmark là tiêu chuẩn, mà dựa trên đó, vận hành của một chứng khoán, một quỹ tương hỗ hay người quản lý đầu tư có thể tính toán được. Nhìn chung, thị trường rộng (broad market) và cổ phiếu phân đoạn thị trường và trái phiếu chỉ số được sử dụng cho mục đích này.

 

 

 

ALPHA

 

Alpha là một thước đo lợi suất đầu tư đã điều chỉnh rủi ro. Dựa trên biến động giá, hệ số này so sánh lợi suất đầu tư đã điều chỉnh rủi ro của một chứng khoán hoặc danh mục đầu tư với một chỉ số chuẩn. Phần lợi suất của khoản đầu tư cao hơn so với lợi suất của chỉ số làm chuẩn gọi là “alpha”.

 

Nói một cách đơn giản, alpha thường được coi là thể hiện phần giá trị mà một nhà quản lý thêm vào hoặc lấy đi từ lợi suất của danh mục đầu tư.

  • Alpha = +1: Danh mục này có lợi suất cao hơn 1% so với chỉ số chuẩn.
  • Alpha = -1: Lợi suất danh mục thấp hơn chỉ số chuẩn là 1%.

*Alpha càng dương cao thì càng tốt.

 

BETA

 

Hệ số Beta là hệ số đo lường mức độ biến động, hoặc rủi ro hệ thống của một cổ phiếu hoặc một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường. Beta được tính bằng cách sử dụng phân tích hồi quy, và bạn có thể coi hệ số này là xu hướng lợi suất đầu tư cá nhân phản ứng với các biến động của thị trường. Đây là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM).

  • Theo định nghĩa, thị trường có beta bằng 1. Giá trị beta của chứng khoán đơn lẻ và các danh mục đầu tư được xác định dựa trên mức độ biến động sai khác so với thị trường của chúng.
  • Beta = 1: giá của khoản đầu tư dao động giống hệt với thị trường
  • Beta > 1: giá của đầu tư sẽ biến động nhiều hơn so với thị trường.

Ví dụ, nếu beta của một danh mục đầu tư của quỹ là 1,2 thì trên lý thuyết, mức độ biến động của khoản đầu tư này cao hơn 20% so với thị trường.

 

Nhà đầu tư bảo thủ tìm cách bảo toàn vốn nên tập trung vào chứng khoán và danh mục đầu tư có beta thấp, còn những nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi ro trong việc tìm kiếm lợi nhuận cao thì nên tìm kiếm đầu tư có beta cao.

 

R-BÌNH PHƯƠNG

 

Là một phép đo thống kê biểu thị tỷ lệ phần trăm biến động của một danh mục đầu tư hoặc chứng khoán được giải thích bởi biến động của một chỉ số chuẩn. Đối với các chứng khoán có thu nhập cố định và các quỹ tương hỗ tương ứng của chúng, mốc chuẩn là tín phiếu kho bạc Mỹ, và, với cổ phiếu và quỹ cổ phiếu, mốc chuẩn là chỉ số S&P 500.

 

Giá trị của R-bình phương dao động từ 0 đến 100. Theo Morningstar, một quỹ tương hỗ với R-bình phương từ 85 tới 100 có lợi suất đầu tư sát với chỉ số. Một quỹ có R-bình phương dưới 70 sẽ không cho lợi suất như chỉ số.

 

Nhà đầu tư quỹ tương hỗ nên tránh các quỹ được quản lý chủ động với R-bình phương cao, do các quỹ này thường bị chỉ trích bởi các nhà phân tích. Trong những trường hợp này, tại sao phải trả phí cao cho cái gọi là quản lý chuyên nghiệp khi nhà đầu tư có thể nhận được kết quả đầu tư tương tự hoặc tốt hơn từ một quỹ chỉ số. 

 

ĐỘ LỆCH CHUẨN

 

Đo lường mức độ phân tán của số liệu ra khỏi giá trị trung bình. Nói một cách  dễ hiểu là số liệu càng lan đi xa, khác biệt của chúng so với giá trị trung bình sẽ càng lớn. Độ lệch chuẩn được áp dụng cho lợi suất hàng năm của một khoản đầu tư khi đo lường độ biến động (rủi ro) của nó; cổ phiếu biến động sẽ có độ lệch chuẩn cao. Với các quỹ tương hỗ, độ lệch chuẩn cho chúng ta biết phần lợi nhuận của quỹ sẽ sai khác so với lợi nhuận dự kiến ​​dựa trên số liệu lịch sử.

 

TỶ SỐ SHARPE

 

Được phát triển bởi nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel William Sharpe, tỷ số này đo lường tỷ suất lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro. Nó được tính bằng cách lấy lợi suất của khoản đầu tư trừ đi lãi suất phi rủi ro (trái phiếu kho bạc Mỹ) rồi chia hiệu này cho độ lệch chuẩn của lợi suất của khoản đầu tư.

 

Tỷ số Sharpe cho biết lợi suất của khoản đầu tư có được là do quyết định đầu tư thông minh hay là do mức độ rủi ro quá cao. Tỷ số này rất hữu ích bởi vì mặc dù một danh mục đầu tư hoặc cổ phiếu có thể thu về lợi suất cao hơn so với các khoản đầu tư tương tự, danh mục đầu tư hoặc cổ phiếu đó chỉ có thể là một đầu tư tốt nếu những lợi suất cao đó không đi kèm với quá nhiều rủi ro tăng lên. Khoản đầu tư có tỷ số Sharpe càng lớn, thì tỷ suất sinh lời đã điều chỉnh rủi ro càng tốt.

 

(*) Lãi suất phi rủi ro là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ tài chính mà không bị rủi ro vỡ nợ (default risk). Tuy nhiên, những công cụ tài chính có thể gặp phải những loại rủi ro khác, ví dụ rủi ro thị trường (lãi suất thị trường thay đổi), rủi ro về tính lỏng (công cụ không thể được bán để lấy một khoản tiền mặt nhất định)…