Cách tính tỷ lệ/lợi suất cổ tức trên mỗi cổ phần - Intelligent Investor

Cách tính tỷ lệ/lợi suất cổ tức trên mỗi cổ phần

04/07/2017 22:47

Cổ tức là gì?

 

Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được doanh nghiệp trích ra, trả cho cổ đông. Cổ tức thường được chi trả bằng tiền hoặc cổ phiếu.

 

Tỷ lệ chi trả cổ tức, hình thức chi trả… được thông qua ở Đại hội cổ đông thường niên hàng năm của doanh nghiệp.

 

Vì sao doanh nghiệp lại chi trả cổ tức?

 

Mục đích của việc kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tạo ra giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp (cổ đông). Vì thế, hàng năm, doanh nghiệp làm ăn có lãi, thì cổ đông đòi hỏi phải nhận được một mức lợi tức xứng đáng với đồng vốn họ bỏ ra đầu tư vào doanh nghiệp. Như vậy, khi doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, tạo ra lợi nhuận, một phần lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp trích ra, chi trả cho cổ đông dưới dạng cổ tức, một phần lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp sử dụng tái đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 

Việc chi trả cổ tức thường xuyên, đều đặn hàng năm sẽ giúp củng cố niềm tin cho cổ đông về doanh nghiệp.

 

Các hình thức chi trả cổ tức?

 

Trả cổ tức bằng tiền:

 

Cổ tức bằng tiền là hình thức doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền vào tài khoản chứng khoán của nhà đầu tư.

 

Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, doanh nghiệp công bố tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền dựa trên mệnh giá cổ phiếu (tương ứng 10.000 đồng/cổ phiếu)

 

Ví dụ: Ngày 5/6/2018, CTCP Sữa Việt Nam (VNM) trả cổ tức bằng tiền còn lại năm 2017, tỷ lệ 15%. Như vậy, cổ tức bằng tiền cho 1 cổ phiếu là: 15% x 10.000 = 1.500 đồng/cổ phiếu.

 

Tuy nhiên, nhà đầu tư sẽ không nhận hết 1.500 đồng cổ tức/cổ phiếu. Vì khi nhận cổ tức bằng tiền, nhà đầu tư sẽ phải nộp thuế 5%, như vậy, số tiền cổ tức thực nhận chỉ là: 1.500 x 95% = 1.425 đồng/cổ phiếu.

 

Trả cổ tức bằng cổ phiếu:

 

Cổ tức bằng cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông. Việc phát hành thêm cổ phiếu (để trả cổ tức) không làm thay đổi vốn chủ sở hữu cũng như tỷ lệ sở hữu của cổ đông trong doanh nghiệp.

 

Ví dụ: Ngày 28/6/2018, Tập đoàn Vingroup (VIC) trả cổ tức bằng cổ phiếu năm 2017, tỷ lệ 1000:210. Như vậy, nhà đầu tư cứ nắm giữ 1.000 cổ phiếu VIC thì sẽ nhận được thêm 210 cổ phiếu VIC mới.

 

Vì sao giá cổ phiếu được điều chỉnh giảm khi chia cổ tức?

 

Nhà đầu tư khi mua 1 cổ phiếu sẽ thu được lợi nhuận từ: (i) cổ tức nhận được, và (ii) chênh lệch giá bán so với giá mua cổ phiếu.

 

Ta dễ dàng thấy: Tâm lý chung nếu không điều chỉnh giảm giá cổ phiếu sau khi chia cổ tức, thì nhà đầu tư sẽ có xu hướng muốn nắm giữ cổ phiếu trước ngày chia cổ tức, khiến cho cầu về cổ phiếu tăng, đẩy giá tăng.

 

Nhưng sau ngày chia cổ tức, nhà đầu tư lại không muốn nắm giữ cổ phiếu nữa, do phải đợi tận 1 năm sau mới nhận thêm cổ tức, nên có xu hướng muốn bán cổ phiếu, dẫn đến cung cổ phiếu tăng, đẩy giá cổ phiếu giảm.

 

Việc mất cân đối cung cầu cổ phiếu trước ngày chia cổ tức (ngày giao dịch không hưởng quyền) sẽ tác động đến thanh khoản của cổ phiếu, giá cổ phiếu biến động lớn, nên để tránh tình trạng trên, giá cổ phiếu được điều chỉnh giảm (theo tỷ lệ nhận cổ tức) đảm bảo công bằng cho người mua – người bán vào ngày chia cổ tức.

Trong đó: P’:   Giá cổ phiếu sau khi chia cổ tức (vnđ)

P:   Giá cổ phiếu trước khi chia cổ tức (vnđ)

Pa:   Giá cổ phiếu phát hành thêm dành cho quyền mua ưu đãi (vnđ)

a:   Tỷ lệ cổ phiếu phát hành thêm dành cho quyền mua ưu đãi (%)

b:   Tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu (%)

c:   Cổ tức bằng tiền (vnđ/cổ phiếu)

Nhà đầu tư nên chọn cổ tức tiền hay cổ tức cổ phiếu?

 

Để trả lời câu hỏi trên, ta cần phải biết được ưu – nhược điểm của 2 hình thức trả cổ tức này:

 

Cổ tức bằng tiền Cổ tức bằng cổ phiếu
Ưu điểm – Cổ đông có cảm giác đảm bảo an toàn, chắc chắn về tình hình của doanh nghiệp

– Chứng tỏ dòng tiền doanh nghiệp lành mạnh, an toàn.

– Nhà đầu tư tránh bị đánh thuế 2 lần.

– Doanh nghiệp có tiền để khắc phục khó khăn, hoặc đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư vào những dự án mang lại lợi nhuận lâu dài cho cổ đông.

– Đối với cổ phiếu ít thanh khoản, việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm gia tăng số lượng cổ phiếu lưu hành, giúp tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu.

Nhược điểm – Nhà đầu tư chịu thuế 2 lần: Lần 1 là khi doanh nghiệp nộp thuế TNDN, vì lợi nhuận để trả cổ tức là LNST. Lần 2 là thuế TNCN 5% cho cổ tức bằng tiền.

– Trong trường hợp doanh nghiệp đang gặp khó khăn, hoặc đang trong giai đoạn phát triển, cần vốn để mua sắm máy móc thiết bị, thì việc trả cổ tức bằng tiền sẽ làm giảm lượng tiền trong doanh nghiệp, khiến cho doanh nghiệp thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.

– Doanh nghiệp chịu áp lực về tăng EPS, khi lợi nhuận năm tiếp theo tăng không xứng đáng với việc tăng vốn điều lệ thì EPS sẽ giảm, dẫn đến giảm giá cổ phiếu.

– Doanh nghiệp đầu tư không hiệu quả, dẫn đến thua lỗ, làm giảm giá cổ phiếu.

– Không như nhận cổ tức bằng tiền, nhà đầu tư sẽ phải chờ lâu hơn, để cổ tức bằng cổ phiếu về tài khoản của mình.

– Nhiều trường hợp, cổ phiếu phát hành thêm sẽ làm cho nhà đầu tư có cổ phiếu lẻ và khó bán trên thị trường.

 

Cổ tức một cổ phần (Dividend per Share) là gì? Công thức tính DPS?

Ý nghĩa: 1 cổ phần nhận được bao nhiêu đồng cổ tức?

 

Ví dụ: CTCP Điện lực dầu khí Nhơn Trạch 2 (NT2): Theo nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên đã phê duyệt, LNST chia cổ tức tỷ lệ 30%. Như vậy, Cổ tức một cổ phần (DPS) là 3.000 đồng/cổ phiếu.

 

Việc cổ tức một cổ phần (DPS) tăng hàng năm, là một minh chứng giúp doanh nghiệp thể hiện rằng doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho cổ đông.

 

Thông thường, việc doanh nghiệp chi trả 1 tỷ lệ cổ tức một cổ phần (DPS) cao thường tạo tâm lý tích cực cho cổ đông, giúp giá cổ phiếu tăng.

 

Tỷ lệ chi trả cổ tức là gì? Cách tính hệ số chi trả cổ tức?

Ý nghĩa: Doanh nghiệp dành ra bao nhiêu phần trăm (%) thu nhập để trả cổ tức cho cổ đông?

 

Ví dụ: Năm 2017, Tổng công ty Khí Việt Nam (GAS) có EPS là 4.994 đồng, cổ tức một cổ phần (DPS) là 4.000 đồng/CP. Như vậy, tỷ lệ chi trả cổ tức năm 2017 là: 4.000/4.994 = 80,1%. Điều này có nghĩa là: năm 2017 cứ 100 đồng lợi nhuận, GAS dùng 80,1 đồng để chi trả cổ tức và giữ lại 19,9 đồng để tái đầu tư.

 

Thông thường, nếu 2 doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh như nhau, nhà đầu tư sẽ đánh giá cao hơn doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn, vì doanh nghiệp đó giữ lại nhiều lợi nhuận để tái đầu tư nên được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh trong tương lai.

 

 

Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield) là gì? Cách tính tỷ suất cổ tức?

Ý nghĩa: nhà đầu tư bỏ ra 1 đồng mua cổ phiếu trên thị trường, thì có thể thu về bao nhiêu đồng cổ tức?

 

Trong trường hợp doanh nghiệp không tăng vốn, tỷ suất cổ tức (dividend yield) phản ánh hiệu quả vốn đầu tư cho cổ phiếu.

 

Ví dụ: NT2 có thị giá cổ phiếu (chưa điều chỉnh cổ tức) năm 2017 là 33.500 đồng (giá đóng cửa 31/12/2017). Như vậy, cổ tức một cổ phần (DPS) là 3.000 đồng, thì Tỷ suất cổ tức năm 2017 đạt: 3.000 / 33.500 = 8,96%