Nguyên lý hoạt động quỹ ETF tại Việt Nam - Intelligent Investor

Nguyên lý hoạt động quỹ ETF tại Việt Nam

23/07/2017 15:14

Quỹ đầu tư ETF (Exchange – Traded Fund) bắt đầu được nhắc đến trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam thời gian gần đây, dù mô hình này đã khá quen thuộc trên thế giới. Được ra đời vào những năm 1990 nhằm phục vụ cho nhu cầu của một bộ phận nhà đầu tư không muốn quá “vất vả” để lựa chọn cổ phiếu đầu tư. Thay vào đó, họ đầu tư mô phỏng theo các chỉ số chứng khoán, một nhóm ngành hoặc theo các loại hàng hóa có tính thanh khoản cao như dầu mỏ hay vàng.

 

TÍNH ƯU VIỆT CỦA ETF

 

Hiện nay phần lớn các quỹ ETF hoạt động trên thế giới là Quỹ Đầu Tư Chỉ Số (Index funds). Ví dụ: trên sàn Y có 4 cổ phiếu A,B,C, D với số lượng cổ phiếu phát hành lần lượt là 5 triệu, 10 triệu, 5 triệu, 15 triệu. Quĩ Z, đầu tư theo “Y index” tức là họ có thể xây dựng danh mục đầu tư của mình theo tỷ lệ 1:2:1:3, tương đương với việc có thể họ sẽ mua 400.000 cổ phiếu A, 800.000 cổ phiếu B và 400.000 cổ phiếu C và 12.000 cổ phiếu D.

 

 

 

 

Nguyên nhân của việc các quỹ phải xây dựng danh mục đầu tư của mình theo tỷ lệ trên là do tầm ảnh hưởng theo tỷ lệ của từng loại cổ phiếu với chỉ số chung. Như trong trường hợp trên, tầm ảnh hưởng của từng cổ phiếu lên chỉ số chung có thể theo đúng tỷ lệ 1:2:1:3 nên các quỹ đầu tư chỉ số chọn tỷ lệ này để sự tăng hay giảm của một loại cổ phiếu cũng không gây ảnh hưởng đến chỉ số chung của toàn sàn giao dịch Y và giá trị quỹ của họ cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự tăng giảm điểm của chỉ số.

 

Quỹ đầu tư chỉ số ETF đầu tư 100% tài sản của họ theo tỷ lệ đã nêu trên vào tất cả các cổ phiếu thuộc một chỉ số nhất định. Ví dụ như, nếu một quỹ đầu tư chọn đầu tư hoàn toàn vào một chỉ số là S&P 500 thì có nghĩa là ETF đó sẽ đầu tư vào cổ phiếu của 500 công ty lớn nhất của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ do đó theo sát sự biến chuyển của chỉ số S&P 500. Một số quỹ đầu tư tài chính khác thì lại dùng phương pháp “mẫu đại diện”, có nghĩa là họ sẽ đầu tư từ 80% đến 95% tài sản của họ vào những cổ phiếu thuộc một chỉ số họ đã chọn. Từ 5% – 20% còn lại sẽ được đầu tư vào những tài sản khác như các hợp đồng tương lai, quyền chọn, các hợp đồng hoán đổi hoặc các cổ phiếu không thuộc chỉ số họ đã chọn. Tất cả đều tùy thuộc vào mục tiêu của những người quản lý quỹ.

 

Cho dù đầu tư theo các tỷ lệ khác nhau nhưng về cơ bản quỹ đầu tư theo chỉ số có một số điểm ưu việt sau đây:

  • Với đặc điểm đầu tư theo chỉ số Thị trường Chứng khoán nên quỹ ETF trở thành một hình thức đầu tư phân tán rủi ro tốt và chi phí khá thấp (thường dưới 1%). Chính điều này đã giúp ETF thu hút các nhà đầu tư tổ chức, cũng như các cá nhân đầu tư vào ETF với mục tiêu nắm giữ lâu dài hoặc phục vụ chiến lược giao dịch ngắn hạn.
  • Cơ chế hoạt động của ETF cũng làm cho giá chứng chỉ quỹ thường theo sát giá trị tài sản ròng (NAV), chứ không biến động quá xa như các quỹ tương hỗ. Hơn nữa, các quỹ tương hỗ lại tính thêm 20% phí trên phần tăng trưởng của giá trị tài sản ròng, có nghĩa là lợi nhuận có được, họ phải chia cho nhà quản lý quỹ 20%. Các ETF không thu khoản phí này.
  • Chứng chỉ quỹ ETF cũng dễ dàng mua bán trên thị trường chứng khoán như bất kỳ cổ phiếu nào.

 

HAI LOẠI QUỸ ETF HIỆN NAY:

  • Quỹ Đầu Tư Chỉ Số Hàng Hóa đầu tư vào một số hàng hóa nhất định như vàng, dầu mỏ hoặc một rổ các hàng hóa bằng cách nắm giữ thực sự loại hàng hóa đó hoặc dùng các hợp đồng tương lai
  • Quỹ ETF quản lý chủ động (Actively managed ETFs), loại quỹ ETF này mới ra đời từ năm 2008 ở Mỹ và vẫn chưa phổ biến trên thế giới.

 

 

 

NHẬN DIỆN ETF TẠI VIỆT NAM

 

Vốn ngoại vào Thị trường Chứng khoán Việt Nam thông qua sự hiện diện trực tiếp của các quỹ, tổ chức đầu tư và các cá nhân. Một hình thức khác là các nhà đầu tư ủy thác đầu tư qua các định chế tài chính quốc tế có mặt tại Việt Nam. Nhưng gần đây, có một dòng chảy ngầm của vốn ngoại diễn ra mạnh mẽ dưới hình thức quỹ đầu tư theo chỉ số (ETF). Theo quan sát của giới quan sát tài chính, chính sự tham gia của các quỹ ETF đã đóng góp một phần quan trọng trong những giao dịch “bất thường” của khối ngoại trong năm qua.

 

Một trong các quỹ ETF đã hoạt động tại Việt Nam là The Market Vector Vietnam ETF (ký hiệu là VNM) với số vốn ban đầu 14 triệu USD. Đây là quỹ do công ty quản lý đầu tư Van Eck Global thành lập. Quỹ đã đầu tư vào một danh mục gồm 28 chứng khoán niêm yết trên TTCK Việt Nam. Chứng chỉ của ETF này cũng đã được niêm yết trên NYSE từ tháng 8/2009.

 

VNM không phải là quỹ đầu tư ETF đầu tiên hiện diện tại Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Ngày 15/1/2008, Deutsche Bank AG dã thành lập quỹ ETF đầu tiên tại Việt Nam với tên FTSE Vietnam Index ETF có số vốn 5,1 triệu USD. Chỉ 2 tháng sau đó, quy mô tài sản quỹ ETF này đã tăng gấp đôi do các nhà đầu tư bên ngoài góp thêm vốn và theo đà tăng trưởng của VN-Index năm 2008. Đến cuối tháng 8/2008 tài sản Quỹ đạt mức cao nhất 160 triệu USD khi VN-Index đạt đỉnh. Nhưng khi bóng mây đen của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu “vần vũ” trên bầu trời thì quy mô của Quỹ đã giảm xuống nhanh chóng, có lúc chỉ còn 40 triệu USD, chỉ bằng 25% lúc cao nhất.

 

“ÂM THẦM” CUỘC CHƠI CHỈ SỐ TRONG NĂM 2010

 

Biến động của VN-Index trong năm qua khiến giới phân tích trong nước cảm nhận “hơi thở” rõ rệt của 2 quỹ ETF đang hoạt động tại Thị trường Chứng khoán Việt Nam.

 

Sự gia tăng vốn của các Quỹ ETF:

 

Mối nghi ngờ này dường như được khẳng định nếu nhìn vào sự thay đổi giá trị tài sản của FTSE Vietnam Index ETF trong 3 năm qua. Chỉ số VN-Index trong năm 2010 biến động khá hẹp, NAV của Quỹ theo sát chỉ số này, nhưng tài sản của Quỹ lại tăng lên đáng kể, vượt 300 triệu USD – mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 60 lần so với mức ban đầu. Điều này cho thấy, quỹ ETF này đã thu hút một lượng đáng kể vốn của các nhà đầu tư mới, bên cạnh tăng trưởng (nếu có) của danh mục.

 

Tương tự, Quỹ The Market Vector Vietnam ETF cũng đã “âm thầm” có bước nhảy vọt về quy mô. Tính đến ngày 8/12, tài sản của Quỹ quản lý đã tăng lên mức 220 triệu USD. Theo thông tin mới nhất từ Van Eck Global, số tài sản của Quỹ đang quản lý có 68,4% được dành đầu tư trực tiếp vào 24 loại cổ phiếu Việt Nam. Ngoài ra quỹ ETF này còn nắm 1,7 triệu chứng chỉ luỹ Vinacapital Vietnam Opportunity Fund Ltd và một số cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực năng lượng như Talisman Energy Inc (Canada), Premier Oil PLC (Anh)…

 

Cuộc chơi chỉ số:

 

Chính sự hiện diện của các quỹ ETF khiến nhà đầu tư trong nước nhận ra VN-Index và một số BCS (Blue-chip) không biến động nhiều, còn rất nhiều mã mất giá mạnh. Điều này xuất phát từ “cuộc chơi chỉ số” của các quỹ ETF tại Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Chẳng hạn tại một số mã cổ phiếu như BVH, MSN, VIC, cuộc chơi chỉ số hầu như hoàn toàn do khối ngoại cầm trịch. Dựa trên sức cầu nhà đầu tư nước ngoài, cổ phiếu BVH đã tăng giá gấp 3, MSN và VIC tăng gấp đôi trong năm nay, dù trong mắt nhà đầu tư nội địa, đây là các mã không hấp dẫn nếu nhìn trên các chỉ số cơ bản. Thậm chí, đôi khi ở các thời điểm nhạy cảm, các mã này còn được “nâng lên đặt xuống” một cách có chủ ý. Thông qua các trụ cột như vậy, nhà đầu tư nước ngoài có thể tăng hay giảm tốc VN-Index một cách khéo léo.

 

Nhìn vào Top 10 danh mục của FTSE Vietnam Index ETF và Market Vectors Vietnam ETF có thể thấy VN-Index đã được khéo léo giữ bằng các mã lớn như BVH, VIC, HAG, DPM. FPT…. Chính động thái đỡ giá này khiến VN-Index đã có một thời gian đi ngang, cho dù phần lớn các mã hạng trung và hạng nhỏ giá đều giảm sâu. Danh mục của các quỹ ETF và diễn biến thực tế thị trường cho cho thấy yếu tố dẫn dắt VN- Index của khối nhà đầu tư ngoại trong năm qua là rất lớn cho dù giá trị mua trung  bình của khối này chỉ chiếm trên dưới 10%.

 

TỔNG KẾT

 

Việc các quỹ ETF vào Thị trường Chứng khoán Việt Nam là một dấu hiệu tốt. Điều này cho thấy Thị trường Chứng khoán Việt Nam đã tạo ra những dấu ấn rõ nét trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là cho thấy sự cải thiện về chất lẫn lượng của Thị trường Chứng khoán. Bản chất của các quỹ ETF cũng như những công cụ phái sinh khác nhằm quản lý và hạn chế rủi ro, nên việc các ETF xuất hiện càng nhiều trên Thị trường Chứng khoán trong nước sẽ giúp cho thị trường ổn định hơn, muốn điều này trở thành hiện thực cần có sự nỗ lực của các cơ quan quản lý cũng như các tổ chức đầu tư lớn.

 

(Nguồn: Internet)

 

 

(*) S&P 500: bao gồm 500 loại cổ phiếu được lựa chọn từ 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ. S&P 500 được thiết kế để trở thành một công cụ hàng đầu của thị trường chứng khoán Mỹ và có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm rủi ro/lợi nhuận của các công ty hàng đầu.

 

Các công ty được lựa chọn để đưa vào chỉ số được lựa chọn ra bởi Ủy ban Chỉ số S&P, một nhóm các nhà phân tích và nhà kinh tế của Standard & Poor. S&P 500 là chỉ số đo giá trị thị trường – giá trị của mỗi cổ phần trong chỉ số cân xứng với giá trị thị trường của nó.

 

S&P 500 là một trong những chuẩn đánh giá thông thường nhất dành cho thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones đã từng là chỉ số nổi tiếng nhất cho các cổ phiếu ở Mỹ, nhưng vì nó chỉ chứa 30 công ty, vì vậy hầu hết mọi người tin rằng S&P 500 sẽ phản ánh thị trường tốt hơn và đầy đủ hơn. Trên thực tế, nhiều người coi nó là định nghĩa của thị trường.

 

Những chỉ số phổ biến khác của Standard & Poor là S&P 600, một chỉ số của những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ từ 300 triệu – 2 tỉ đôla, và S&P 400, một chỉ số của các công ty có mức vốn hóa thị trường trung bình từ 2 – 10 tỉ đôla.

 

Một số các sản phẩm dựa trên chỉ số S&P 500 có sẵn trên thị trường dành cho các nhà đầu tư, bao gồm các quỹ chỉ số và ETFs. Tuy nhiên, việc các nhà đầu tư cá nhân mua được chỉ số là rất khó, bởi vì để làm điều này buộc phải mua cả 500 cổ phiếu của các công ty khác nhau

 

(**) TÀI SẢN THUẦN NAV: Bao gồm giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phần còn được gọi là giá trị sổ sách. Cổ phần là thể hiện của giá trị tài sản ròng thể hiện giá trị trên mỗi cổ phiếu của một quỹ tương hỗ hay quỹ đầu tư trao đổi (ETF) Quỹ. Nó được tính bằng cách chia tổng giá trị tài sản ròng của quỹ hoặc công ty bằng số cổ phần chưa thanh toán.

  • Vốn cổ đông (vốn điều lệ) hình thành từ lợi nhuận để lại
  • Vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá lỗ trong hoạt động kinh doanh
  • Quỹ dự trữ phát triển dự phòng.

 

 

So sánh biến động NAV giữa quỹ Intelligent Investor với VN-Index! (2017)

 

 

(***) BLUE – CHIP (BCs) Được biết đến từ loại thẻ đổi tiền khi chơi bài poker. Theo thông lệ, chips màu xanh (blue) có giá trị quy đổi cao nhất. Khái niệm này được ứng dụng vào thị trường chứng khoán để phân biệt các loại cổ phiếu.

 

BCs là loại cổ phiếu của các công ty có tiếng tăm tốt, doanh thu ổn định, số nợ không quá mức cho phép. Cổ phiếu BCs thường có giá trị vốn hóa lớn, sức ảnh hưởng tới thị trường cao và có khả năng vượt qua biến động thị trường tốt, đem lại sự tăng trưởng đáng tin cậy.

 

Các nhà đầu tư chia % ngân sách đầu tư vào BCs khi muốn tìm loại cổ phiếu an toàn; ổn định; mặc dù giá cổ phiếu loại này tương đối cao. Cổ phiếu BCs thường được trả cổ tức đều đặn, ngay cả khi hoạt động kinh doanh xấu hơn bình thường.

 

Một số cổ phiếu BCs tại thị trường Việt nam có thể kể đến như Petrolimex, Vinamilk, Sabeco, Vietcombank, PV Gas, Vingroup, FPT….